Virus HPV gây ra nhiều bệnh lý ung thư nguy hiểm như: ung thư cổ tử cung, ung thư vòm vòm, ung thư dương vật, ung thư hậu môn, ung thư âm đạo, sùi mào gà,… với tỷ lệ lên đến 90% ở cả nam và nữ giới. Đây đều là những căn bệnh nguy hiểm, khó điều trị, ảnh hưởng lớn đến cuộc sống, tiền bạc và tính mạng của người bệnh.

virus hpv là gì

1. Virus HPV là gì?

Virus HPV là tên viết tắt của Human Papilloma Virus – loại virus gây u nhú ở người. Có khoảng 100 loại HPV ảnh hưởng đến các bộ phận khác nhau của cơ thể. Khoảng 40 loại HPV có thể gây ra các bệnh về đường sinh dục bao gồm: âm hộ, âm đạo, cổ tử cung, dương vật, bìu cũng, như trực tràng và hậu môn,… Trong số đó, khoảng 14 chủng được coi là là có “nguy cơ cao” dẫn đến ung thư cổ tử cung. Theo thống kê của CDC Hoa Kỳ, tại Mỹ mỗi năm có khoảng 36.000 phụ nữ và nam giới nghi ngờ các bệnh lý ung thư do nhiễm vi rút HPV. [ 1 ]

HPV có thể gây ra nhiều bệnh ung thư và bệnh về đường sinh dục nguy hiểm như: ung thư cổ tử cung, ung thư hậu môn, ung thư vòm vòm, ung thư dương vật, ung thư âm hộ, mụn cóc sinh dục, … không phân biệt giới tính nam hay nữ giới. Ngoài ra, người nhiễm virus thường không có triệu chứng nhưng vẫn có thể lây truyền cho người khác.

Hầu hết các ống vi rút HPV đều vô hại, không thể xuất hiện triệu chứng và có thể tự khỏi mà không cần điều trị. Tuy nhiên, vẫn có khoảng hơn 40 chủng vi-rút HPV, đặc biệt là 14 chủng vi-rút HPV nguy cơ cao có thể gây ra một số bệnh ung thư và bệnh về đường sinh dục nguy hiểm. Đặc biệt, chủng HPV nguy cơ cao được phát hiện ở hơn 99% trường hợp ung thư cổ tử cung.

2. Các chủng virus HPV phổ biến

Các chuyên gia y tế cho biết, phần lớn các chủng HPV gây ra mụn nhọt trên da ở các vị trí như cánh tay, ngực, bàn tay hoặc bàn chân. Các loại khác nhau được tìm thấy chủ yếu tại các niêm phong trong cơ thể. Các lớp lót lót này là các lớp bề mặt ẩm bao phía ngoài các cơ quan và các bộ phận của cơ thể như âm đạo, hậu môn, u ám, hầu gai. Các loại HPV được tìm thấy trên niêm mạc niêm mạc thường được gọi là HPV sinh dục. Các loại này không sống trên bề mặt da. [ 2 ]

Các loại HPV lây truyền qua đường tình dục được chia thành hai nhóm, nguy cơ thấp và nguy cơ cao. Trong đó, có khoảng 14 loại HPV nguy cơ cao bao gồm HPV 16, 18, 31, 33, HPV 35, 39, 45, 51, 52, 56, HPV 58, 59, 66 và 68. Hai trong số này là HPV16 và HPV18 , là nguyên nhân đối với hầu hết các bệnh ung thư liên quan đến HPV.

⇒ Hãy tìm hiểu thêm qua bài viết: 12 loại hpv nguy cơ cao là gì? Cách nào để ngăn chặn?

2.1. HPV 6 và HPV 11

Virus HPV chủng 6, 11 là chủng virus HPV nguy cơ thấp, không gây bệnh nguy hiểm nhưng chủng virus này khá nổi bật và phổ biến, được tìm thấy ở người với tỷ lệ lớn. Có đến 90% tình trạng nổi mụn nhọt sinh dục, u nhú, sùi mào gà làm 2 tuýp 6, 11, tuy nhiên có ít trường hợp. Đặc biệt, HPV type 11 cũng có thể gây ra những thay đổi đối với cổ tử cung.

Tiêm vắc xin HPV là biện pháp đơn giản, hiệu quả giúp ngăn chặn vi rút HPV 6 và HPV 11 hữu hiệu. Các nghiên cứu cho thấy phản xin đạt hiệu quả lên đến 89-99% trong việc chống lại virus HPV 6 và HPV 11 ở những người từ 9-26 tuổi.

2.2. HPV 16 và HPV 18

Hai chủng virus HPV 16 và HPV 18 là 2 chủng virus nguy cơ cao nhất và tác nhân dẫn đến nhiều bệnh ung thư nguy hiểm như: ung thư cổ tử cung, ung thư dương vật, ung thư vòm, ung thư hậu môn, … Các bệnh do vi rút HPV chủng 16, 18 thường không gây ra các triệu chứng bệnh điển hình trong giai đoạn sớm.

Đặc biệt, chủng HPV 16HPV 18 là căn nguyên của khoảng 70% trường hợp ung thư cổ tử cung trên toàn thế giới. Đây là bệnh ung thư rất nguy hiểm, có thể trở thành “án tử” nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời.

vi rút hpv
Human papillomavirus là tác nhân gây ra nhiều bệnh ung thư nguy hiểm, đặc biệt là chủng virus HPV 16,18.

3. HPV lây qua đường nào?

Virus HPV rất phổ biến, dễ lây lan nên ai cũng có thể lây nhiễm. Vậy virus HPV lây qua đường nào? Virus HPV có thể lây truyền qua đường tình dục và không qua tình dục (lây trường từ mẹ sang con, qua tiếp xúc trực tiếp,…).

Virus HPV lây truyền qua đường tình dục: HPV dễ lây nhiễm khi tiếp xúc da với da, dễ xảy ra nhất khi quan hệ tình dục, chẳng hạn như quan hệ tình dục qua đường âm đạo, hậu môn và miệng. Tình trạng lây nhiễm cũng có thể xảy ra nếu virus HPV tiếp xúc với màng nhầy (ở miệng, môi, hậu môn, các bộ phận của cơ quan sinh dục) hoặc vết nứt trên da, chẳng hạn như vết rách âm đạo.

Ước tính rằng hầu hết những người có quan hệ tình dục sẽ bị nhiễm virus HPV vào một thời điểm nào đó trong cuộc đời. Việc sử dụng bao cao su nếu đúng cách, sẽ giúp giảm nguy cơ lây nhiễm virus HPV.

Virus HPV không lây qua đường tình dục: Trong một số trường hợp hiếm gặp khác, virus HPV có thể lây nhiễm từ mẹ sang con, hay tiếp xúc qua da, niêm mạc có trầy xước, tiếp xúc với vật dụng có chứa dịch tiết cơ thể như đồ lót, tiếp xúc với tổn thương như vết loét, chảy máu,…

Nhiễm virus HPV cực kỳ phổ biến, độ tuổi dễ lây nhiễm nhất là 20-30 tuổi. Virus thường tấn công mạnh những người thường xuyên bị stress, cơ thể suy yếu hay nhiễm siêu vi, có nhiều bạn tình, quan hệ tình dục sớm… Với người hệ miễn dịch kém, HPV sẽ có cơ hội hoành hành sớm hơn. Người nhiễm HPV thường không có triệu chứng, virus tồn tại lâu dài và âm thầm, đến khi được phát hiện bệnh đã diễn tiến nặng, khó điều trị, ảnh hưởng lớn đến cuộc sống, tiền bạc, tỷ lệ tử vong cao.

quan hệ tình dục
Quan hệ tình dục không an toàn khiến tỷ lệ lây nhiễm virus HPV tăng cao.

4. Dấu hiệu nhiễm HPV ở cả nam và nữ giới

Trong hầu hết trường hợp nhiễm virus HPV ở nam và nữ giới, hệ miễn dịch sẽ tạo ra kháng thể để chống lại virus trước khi nó hình thành mụn cóc. Tuy nhiên, khi xuất hiện bệnh, các dấu hiệu nhiễm HPV sẽ khác nhau, tùy thuộc vào tuýp virus HPV và loại mụn cóc mắc phải:

  • Mụn cóc sinh dục: Xuất hiện dưới dạng vết sưng nhỏ như súp lơ, không đau, tiết dịch và gây ngứa hoặc mềm khi chạm vào. Ở phụ nữ, mụn cóc sinh dục chủ yếu xuất hiện ở âm hộ, cũng có thể gặp ở gần hậu môn, trên cổ tử cung hoặc trong âm đạo. Ở nam giới, mụn cóc sinh dục hình thành trên dương vật và bìu hoặc xung quanh hậu môn.
  • Mụn cóc thông thường: Đây là mụn cóc thường xuất hiện trên bàn tay và ngón tay dưới dạng những nốt sần sùi, gồ lên. Mụn cóc dạng này chỉ gây mất thẩm mỹ, nhưng đôi lúc cũng gây đau đớn hoặc chảy máu.
  • Mụn cóc lòng bàn chân (mụn cóc Plantar): Đây là những mụn cóc cứng, sần sùi, thường xuất hiện ở gót chân hoặc lòng bàn chân, gây ngứa ngáy khó chịu cho người bệnh.
  • Mụn cóc phẳng: Đây là những tổn thương có đầu phẳng, hơi nhô cao, có thể xuất hiện ở bất cứ đâu. Trẻ em thường bị ở mặt, phụ nữ bị ở chân, còn nam giới có xu hướng nổi ở vùng râu.

Nếu bạn chưa biết rằng HPV có ở cả nam giới thì hãy xem ngay bài viết: Virus HPV ở nam giới gây bệnh gì? Dấu hiệu bị nhiễm

5. Nguyên nhân nhiễm HPV và các yếu tố nguy cơ

Virus HPV rất khó để kiểm soát bởi con đường lây nhiễm đa dạng và có thể ủ bệnh rất lâu, có thể lên đến vài năm. Theo các chuyên gia y tế, nguyên nhân nhiễm HPV xảy ra khi virus xâm nhập vào cơ thể qua tiếp xúc qua da với da, tiếp xúc qua vết thương hở, lây từ mẹ sang con.

Virus HPV rất phổ biến và ai cũng có thể nhiễm virus HPV. Tuy nhiên, những yếu tố nguy cơ khiến tỷ lệ lây nhiễm virus HPV cao hơn bao gồm:

  • Có nhiều bạn tình: Nếu càng có nhiều bạn tình, nguy cơ nhiễm virus HPV sinh dục sẽ càng cao. Không chỉ vậy, việc quan hệ tình dục với người có nhiều bạn tình cũng làm tăng nguy cơ mắc nhiều bệnh lây qua đường sinh dục hơn.
  • Tuổi tác: Mụn cóc sinh dục xuất hiện phổ biến ở thanh thiếu niên và thanh niên.
  • Hệ thống miễn dịch suy yếu: Những người có hệ miễn dịch suy yếu (như người HIV/AIDS, người uống các loại thuốc ức chế miễn dịch) có khả năng nhiễm virus HPV cao hơn.
  • Da bị tổn thương: Những người có vùng da bị hở hoặc có vết xước sẽ dễ phát triển mụn cóc thông thường hơn.
  • Tiếp xúc không an toàn: Việc chạm vào mụn cóc của người khác hoặc không mặc đồ bảo vệ trước khi tiếp xúc với các bề mặt có chứa virus HPV (như vòi hoa sen công cộng, hồ bơi, nắm tay cửa,…) có thể làm tăng nguy cơ nhiễm virus HPV.
virus hpv ở nam và nữ
Cả nam và nữ giới đều có nguy cơ mắc các bệnh ung thư nguy hiểm do virus HPV.

6. HPV gây bệnh gì?

Virus HPV có thể tồn tại nhiều năm và âm thầm tiến triển, khó phát hiện. Theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ, việc tiếp xúc và lây nhiễm lâu dài với các tuýp virus HPV nguy cơ cao có thể gây ung thư ở các bộ phận của cơ thể nơi virus HPV xâm nhập vào tế bào, chẳng hạn như ở cổ tử cung, hầu họng (phần họng ở phía sau miệng, phía sau khoang miệng cũng bao gồm 1/3 sau của lưỡi, vòm miệng mềm, thành bên và thành sau của họng và amidan), hậu môn, dương vật, âm đạo và âm hộ. Tại các bộ phận, các tế bào ung thư có thể tiến triển bất thường, nhân lên một cách bất thường và hình thành các khối u ác tính.

Dưới đây là các bệnh ung thư nguy hiểm do virus HPV:

6.1. Ung thư cổ tử cung (UTCTC)

Ung thư cổ tử cung là loại ung thư xảy ra ở tế bào lót cổ tử cung – phần dưới của tử cung (dạ con), nối tử cung với âm đạo. Cổ tử cung được bao phủ một lớp mô mỏng được tạo thành từ các tế bào ở cổ tử cung. Ung thư bắt đầu khi các tế bào lót ở cổ tử cung phát triển không kiểm soát và lấn át các tế bào thường, tạo thành khối u trong cổ tử cung.

UTCTC là loại ung thư rất phổ biến ở nữ giới, đứng thứ 2 sau ung thư vú. 99,7% trường hợp UTCTC có sự hiện diện của virus HPV, phổ biến nhất là 2 týp virus HPV 16,18; kế tiếp là các tuýp HPV 31, HPV 33, HPV 45.

Hãy tìm hiểu sâu hơn về bệnh này qua bài viết: Ung thư cổ tử cung: nguyên nhân và cách phòng ngừa.

6.2. Ung thư âm hộ

Đây là loại ung thư xảy ra bề mặt ngoài của cơ quan sinh dục nữ. Âm hộ là vùng da bao quanh niệu đạo và âm đạo, bao gồm cả âm vật và môi nhỏ. Các hình thái ung thư âm hộ là khối u hoặc loét âm hộ gây đau hoặc/và ngứa. Tần suất mắc bệnh thấp hơn các loại ung thư phụ khoa khác.

Ung thư âm hộ gồm 2 loại: Ung thư tế bào vảy âm hộ và U sắc tố âm hộ. Hai týp virus HPV 16, 18 cũng là 2 tác nhân chính gây ung thư âm hộ và ung thư âm đạo (chiếm đến 50-65%), ngoài ra là các týp virus HPV nguy cơ cao khác.

Cùng tìm hiểu rõ hơn về bệnh này qua bài: Ung thư âm hộ: Nguyên nhân và cách phòng ngừa.

6.3. Ung thư âm đạo

Ung thư âm đạo xảy ra do các tế bào ở âm đạo phát triển vượt quá khả năng kiểm soát của cơ thể. Tế bào ung thư có thể xâm lấn và di căn xa tới các cơ quan bộ phận khác nhau của cơ thể (như phổi) và tiếp tục phát triển tại đó. Giống như ung thư âm hộ, 2 týp virus HPV là tác nhân chiếm đến 50-65% trường hợp bị ung thư âm đạo.

Tìm hiểu chi tiết hơn qua bài: Ung thư âm đạo: Nguyên nhân, dấu hiệu và các giai đoạn bệnh.

6.4. Ung thư hậu môn

Ung thư hậu môn là các loại ung thư biểu mô tế bào vảy, ung thư tuyến, ung thư hạch, khối u ác tính hoặc ung thư biểu mô basaloid. Đây là một trong những bệnh ung thư nghiêm trọng nhất khi nam giới nhiễm HPV, gây ra bởi 2 týp virus HPV 16 và 18. Người có tiền sử có mụn cóc sinh dục thì nguy cơ mắc ung thư hậu môn rất cao.

6.5. Ung thư dương vật

Ung thư dương vật là loại ung thư hiếm gặp. Không cắt bao quy đầu và phơi nhiễm với virus HPV là yếu tố nguy cơ chính gây bệnh. Người có tiền sử sùi mào gà, thường là hệ quả của nhiễm virus HPV là khởi nguồn gây ung thư biểu mô tế bào vảy của dương vật cũng như ung thư cổ tử cung ở phụ nữ.

Virus HPV có thể được phát hiện trong 30 – 50% số trường hợp ung thư biểu mô dương vật. Có đến 30-90% nguyên nhân gây ung thư dương vật do hai týp virus HPV 16,18.

6.6. Ung thư vòm họng

Virus HPV, đặc biệt hai tuýp 16 và 18 là tác nhân liên quan đến 70% ca ung thư vòm họng. HPV có thể lây nhiễm vào miệng và cổ họng thông qua quan hệ tình dục và gây ra bệnh ung thư vòm họng (phía sau cổ họng, bao gồm cả lưỡi và amidan). Vắc xin HPV có thể bảo vệ cơ thể phòng nhiễm trùng virus HPV qua đường miệng, chặn nguy cơ các tổn thương vùng hầu họng.

⇒ Xem thêm bài viết: Triệu chứng HPV ở miệng (lưỡi): nguy cơ ung thư vòm họng

6.7. Các tổn thương tiền ung thư hoặc loạn sản

Tình trạng nhiễm virus HPV dai dẳng có thể hình thành các tổn thương tiền ung thư hoặc loạn sản. Những tổn thương tiền ung thư là các thay đổi khiến tế bào cổ tử cung không còn như bình thường mà có xu hướng tiến triển thành ung thư, nhưng các tổn thương này chưa phải là ung thư, chỉ khi không được can thiệp thích hợp thì mới có nguy cơ phát triển thành ung thư.

ung thư cổ tử cung
Theo thống kê, số ca mắc ung thư do virus đang tăng cao ở nam và nữ giới.

7. Xét nghiệm HPV

Theo các chuyên gia, xét nghiệm HPV là xét nghiệm rất có giá trị trong việc phát hiện sớm sự hiện diện của virus HPV. Các xét nghiệm HPV hiện có chỉ được chấp thuận để xác định tình trạng nhiễm virus HPV trên người có cổ tử cung. Các xét nghiệm này có thể được thực hiện đơn độc hoặc kết hợp với các xét nghiệm khác (xét nghiệm Pap) để xác định nguy cơ tiến triển thành ung thư cổ tử cung.

Hiện có các xét nghiệm HPV phổ biến như:

7.1. Xét nghiệm Pap

Đây là xét nghiệm đơn giản, khi thực hiện khám phụ khoa, soi cổ tử cung, bác sĩ sẽ lấy dịch âm đạo để tiến hành xét nghiệm. Xét nghiệm Pap được thực hiện nhằm tìm kiếm sự thay đổi trong các tế bào cổ tử cung, để tìm và phát hiện các bất thường cấu trúc và hình thái như dị sản, loạn sản,… là mầm mống của tế bào ung thư, từ đó giúp phát hiện bệnh sớm.

Đây là xét nghiệm quan trọng, giúp bác sĩ phát hiện có bất thường tế bào hay không để tiến hành các xét nghiệm chuyên sâu, khẳng định bệnh.

test pap
Xét nghiệm Pap giúp phát hiện sớm các tế bào ung thư bất thường ở cổ tử cung ở nữ giới.

7.2. Xét nghiệm Thinprep

Thinprep là xét nghiệm phết tế bào cổ tử cung được cải tiến so với xét nghiệm Pap Smear. Để lấy mẫu xét nghiệm, bác sĩ sẽ dùng chổi tế bào để lấy các mẫu tế bào ở khu vực cổ tử cung. Các tế bào này được rửa trong chất lỏng định hình và cho vào lọ Thinprep, sau đó được bảo quản và mang đến phòng thí nghiệm. Tiêu bản được xử lý hoàn toàn tự động từ kỹ thuật tách chiết và phết tế bào lên mặt lam kính. Cuối cùng, bác sĩ giải phẫu bệnh sẽ tiến hành phân tích và cho kết quả.

7.3. Xét nghiệm DNA của HPV

Xét nghiệm HPV DNA là xét nghiệm quan trọng, có giá trị trong sàng lọc ung thư cổ tử ở nữ giới. Xét nghiệm này sử dụng hệ thống máy tách chiết DNA tự động và công nghệ hiện đại nhằm phân tích, xác định chính xác sự hiện diện virus HPV. Phương pháp này không khẳng định 100% phụ nữ có mắc ung thư cổ tử cung, nhưng dựa vào kết quả thu được có thể phát hiện được virus gây bệnh đang tồn tại trong cơ thể, qua đó bác sĩ đánh giá nguy cơ mắc bệnh trong tương lai và có biện pháp phòng ngừa hữu hiệu.

Vì thế, các chuyên gia thường khuyến cáo nên thực hiện kết hợp xét nghiệm HPV DNA với xét nghiệm Pap Smear hoặc xét nghiệm Thinprep để phát hiện và đánh giá những tế bào bất thường có nguy cơ gây ung thư từ sớm.

7.4. Lưu ý khi thực hiện xét nghiệm chẩn đoán virus HPV

Việc thực hiện chẩn đoán virus HPV định kỳ được ví như “chìa khóa vàng” bảo vệ chị em phụ nữ trước các bệnh ung thư và các bệnh lý nguy hiểm do virus HPV. Để quá trình chẩn đoán sự hiện diện virus HPV chính xác, phụ nữ cần ghi nhớ những lưu ý quan trọng trước khi thực hiện các xét nghiệm, bao gồm:

  • Không sử dụng kem bôi trơn âm đạo trong vòng 24 giờ trước khi làm xét nghiệm.
  • Không thực hiện xét nghiệm trong những ngày kinh nguyệt vì có thể ảnh hưởng đến chất lượng mẫu thu thập. Thời điểm thích hợp nhất để xét nghiệm là ít nhất 5 ngày sau khi sạch kinh.
  • Không làm xét nghiệm trong vòng 48 – 72 giờ sau quan hệ tình dục.
  • Không thụt rửa âm đạo, tác động đến âm đạo trong 2 – 3 ngày trước khi làm xét nghiệm.
  • Thông báo ngay với bác sĩ chỉ định xét nghiệm nếu bạn đang đặt thuốc hoặc trong quá trình điều trị viêm nhiễm phụ khoa.

Phạm Hồng Thuyết nhấn mạnh:

“Virus HPV là nguyên nhân gây các bệnh ung thư tình dục hàng đầu ở nam và nữ giới. Tuy nhiên, hiện nay ở nam giới không có xét nghiệm virus HPV nào được chấp thuận để xác định tình trạng nhiễm HPV ở dương vật, âm hộ hay hậu môn, miệng, hầu họng cho nam giới. Đồng thời không có xét nghiệm nào cho nam giới hoặc nữ giới để xác định tình trạng “nhiễm HPV toàn thân”. Do đó, việc chủ động tiêm chủng vắc xin phòng HPV rất quan trọng trong việc dự phòng bệnh”.

8. Kết quả xét nghiệm dương tính HPV nói lên điều gì?

Sau khi thực hiện xét nghiệm HPV, nếu kết quả xét nghiệm HPV dương tính thì nói lên điều gì? Theo các chuyên gia ý tế, khi xét nghiệm HPV nếu kết quả dương tính đồng nghĩa với việc có sự hiện hữu của virus HPV trong cơ thể. Nhưng bạn đừng vội lo lắng mà hãy thật bình tĩnh lắng nghe và thực hiện theo các hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa. Hầu hết số trường hợp bác sĩ sẽ chỉ định thực hiện thêm một số xét nghiệm để góp phần chẩn đoán khẳng định bệnh. Các xét nghiệm bổ sung như:

  • Sinh thiết tế bào cổ tử cung nhằm phát hiện các tế bào bất thường
  • Sinh thiết kết hợp cùng nội soi để quan sát tổn thương tại cổ tử cung
  • Thực hiện xét nghiệm PAP (phết tế bào cổ tử cung)

Cần lưu ý, nếu xét nghiệm HPV dương tính chỉ cho biết cơ thể đã bị nhiễm virus chứ không khẳng định bạn đã mắc ung thư cổ tử cung. Mặt khác, kết quả dương tính có nguy hiểm hay không còn tùy vào việc chẩn đoán người bệnh dương tính với chủng virus HPV nào.

Theo đó, 2 chủng virus HPV 16 và 18 có nguy cơ cao gây ung thư cổ tử cung. Riêng chủng 11 và 6 liên quan đến tình trạng mụn cóc sinh dục và người bệnh cần được điều trị triệt để. Trường hợp nhiễm các tuýp HPV nguy cơ cao, bác sĩ sẽ khuyến cáo người bệnh thực hiện xét nghiệm PAP định kỳ để sớm phát hiện những bất thường ở giai đoạn sớm hoặc tế bào tiền ung thư để có kế hoạch kiểm soát bệnh tốt hơn.

Hãy xem thêm bài viết: Xét nghiệm HPV dương tính có nguy hiểm không? Cần làm gì?

hpv dương tính
Kết quả xét nghiệm HPV dương tính không đồng nghĩa với người bệnh bị ung thư.

9. Có thể phòng ngừa virus HPV bằng cách nào?

9.1. Tiêm ngừa vắc xin HPV

Hiện nay, vắc xin GardasilGardasil 9 (Mỹ) là 2 loại duy nhất phòng ngừa được các bệnh lý ung thư nguy hiểm như ung thư cổ tử cung, ung thư hậu môn, ung thư hầu họng, ung thư âm hộ/âm đạo, u nhú sinh dục… do virus HPV.

Tiêm vắc xin ngừa HPV là cách duy nhất để bảo vệ sức khỏe và tính mạng của trẻ em, thanh thiếu niên và người lớn. Đồng thời, tiêm vắc xin cũng là giải pháp nhằm tăng miễn dịch cộng đồng, làm giảm tỷ lệ virus HPV lưu hành trong cộng đồng.

Hiện tại, miễn dịch cộng đồng HPV cho nam lại đang phụ thuộc vào việc bao phủ vắc xin ở nữ do tỷ lệ tiêm vắc xin HPV ở cho nam giới còn rất thấp. Đặc biệt, nam giới có tỷ lệ chuyển đổi huyết thanh thấp sau nhiễm HPV tự nhiên, tỷ lệ thải loại HPV thấp hơn 26% so với nữ. Không chỉ nữ giới mà nam giới cũng rất cần tiêm vắc xin phòng các căn bệnh ung thư gây ra do virus HPV đang ngày càng tăng cao.

Bác sĩ Phạm Hồng Thuyết cho rằng, độ lưu hành HPV ở đường sinh dục của nam cao hơn nữ ở mọi lứa tuổi. Sự xuất hiện của vắc xin thế hệ mới Gardasil 9 đang được phái nam, đặc biệt cộng đồng người đồng tính LGBT, cộng đồng người đồng tính nam MSM quan tâm vì khả năng bảo vệ vượt trội trong khi nam giới chưa có bất kỳ biện pháp tầm soát phát hiện các bệnh lý ung thư liên quan đến virus HPV.

tiêm phòng hpv
Tất cả nam và nữ giới từ 9-26 tuổi nên tiêm vắc xin HPV để phòng bệnh sớm.

đăng ký tiêm vắc xin HPV

Xem bài viết này để giải đáp thắc mắc: Nam giới có nên tiêm HPV không?

9.2. Tầm soát ung thư cổ tử cung

Ung thư cổ tử cung là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây vô sinh ở nữ giới, đe dọa tính mạng nếu không được phát hiện sớm, can thiệp điều trị kịp thời và đúng cách. Tầm soát đúng định kỳ là một trong những biện pháp đơn giản và hữu hiệu giúp phát hiện sớm những yếu tố nguy cơ, có phương pháp điều trị ngay từ giai đoạn sớm, tỷ lệ điều trị thành công cao. Bên cạnh việc tiêm chủng phòng bệnh, chị em phụ nữ nên đi khám phụ khoa và làm các xét nghiệm sàng lọc định kỳ theo chỉ định của bác sĩ.

Thông thường, khi tế bào cổ tử cung biến đổi bất thường sẽ mất từ 3 – 7 năm để phát triển thành ung thư. Do đó, xét nghiệm tầm soát có thể phát hiện sớm sự biến đổi này trước khi trở thành ung thư. Những phụ nữ có tế bào cổ tử cung biến đổi nhẹ có thể được theo dõi cho đến khi trở về bình thường. Trường hợp tiến triển nặng sẽ cần phải điều trị cắt bỏ vùng tổn thương.

9.3. Tình dục lành mạnh và an toàn

Hệ lụy của quan hệ tình dục thiếu an toàn là lây nhiễm các bệnh đường tình dục, trong đó virus HPV là tác nhân phổ biến. Để đảm bảo an toàn, tránh lây nhiễm bệnh, các cặp đôi cần sử dụng bao cao su khi quan hệ, không quan hệ tình dục với nhiều bạn tình hoặc với người có những triệu chứng nghi ngờ bệnh; hạn chế các chất kích thích, rượu bia để đảm bảo sự tỉnh táo tránh trường hợp không làm chủ được bản thân dẫn đến quan hệ không an toàn.

Nếu quan hệ tình dục đường hậu môn cũng cần sử dụng bao cao su. Trường hợp quan hệ tình dục qua đường miệng, mọi người cần sử dụng miếng bảo vệ. Không dùng chung đồ lót, khăn tắm với người khác.

Nên tầm soát bệnh tình dục mỗi 6 tháng một lần hoặc đến cơ sở y tế để khám khi có triệu chứng nghi ngờ bệnh. Khi đang điều trị bệnh lý đường tình dục, cần tuân thủ hướng dẫn điều trị của bác sĩ, không quan hệ tình dục cho đến khi bệnh khỏi hẳn để tránh lây cho bạn tình và làm tình trạng viêm nhiễm nặng hơn.

10. Cách điều trị virus HPV

Hiện nay, trên thế giới và tại Việt Nam vẫn chưa có phương pháp điều trị đặc trị virus HPV nếu không có triệu chứng cụ thể. Do đó, quá trình điều trị sẽ được thực hiện nhằm kiểm soát và loại bỏ những tác nhân gây hại.

Đối với người bệnh mắc sùi mào gà: Có thể sử dụng thủ thuật loại bỏ các tổn thương do HPV gây ra, kết hợp với dùng thuốc. Cần lưu ý rằng, không phải tất cả các tổn thương do HPV gây ra đều xuất hiện vào cùng một thời điểm. Vì vậy, dù đã được điều trị ngay khi phát hiện những tổn thương đầu tiên thì nguy cơ tái nhiễm vẫn có thể xảy ra, nên người bệnh cần chủ động theo dõi sức khỏe, tuân thủ chỉ định của bác sĩ để có kết quả điều trị tốt nhất.

Đối với người bệnh bị mụn cóc sinh dục: Cần sớm được tiến hành điều trị, bởi trong giai đoạn đầu, chúng sẽ dễ dàng được loại bỏ nhanh chóng. Tuy nhiên, các mụn cóc thường cần một khoảng thời gian nhất định để lộ rõ trên bề mặt cơ quan sinh dục. Lúc này, cần phải kết hợp giữa việc bôi thuốc và một phương pháp điều trị nhất định nào đó.

Trong trường hợp virus HPV nguy cơ cao xâm nhập vào cơ thể sẽ có khả năng hình thành tế bào ung thư thì quá trình điều trị cần được tiến hành một cách khoa học, phù hợp để có thể đạt hiệu quả tốt nhất. Tùy thuộc vào kích thước khối u, mức độ lây lan sang vùng lân cận, tình trạng sức khỏe, bác sĩ điều trị có thể lựa chọn một số phương pháp như: hóa trị, xạ trị, phẫu thuật,…

Bạn có thể xem thêm video giải đáp về các vấn đề liên quan đến virus HPV:

11. Các câu hỏi thường gặp

  1. Nhiễm HPV khi mang thai có ảnh hưởng đến thai nhi không?

Phần lớn không ảnh hưởng! Phụ nữ nhiễm virus HPV khi mang thai có thể lo lắng rằng virus này có thể gây ảnh hưởng cho thai nhi, nhưng trong hầu hết các trường hợp, virus sẽ không gây hại đến thai kỳ. Đồng thời, các nghiên cứu cho thấy cũng không có mối liên hệ nào được tìm thấy giữa virus HPV và sảy thai, sinh non hoặc các biến chứng thai kỳ khác.

Bên cạnh đó, nguy cơ lây truyền virus HPV cho em bé trong lúc sinh là rất thấp. Hầu hết trẻ sinh ra từ một sản phụ mắc bệnh sùi mào gà không gặp phải các biến chứng liên quan đến HPV. Trong một số trường hợp hiếm hoi, trẻ sinh ra từ sản phụ bị mụn cóc sinh dục sẽ phát triển mụn cóc ở cổ họng. Tình trạng nghiêm trọng này được gọi là u nhú đường hô hấp, trẻ có thể được phẫu thuật laser để ngăn các mụn cóc chặn đường thở.

  1. HPV ở có thể tự khỏi không?

CÓ THỂ! Không phải tất cả các trường hợp nhiễm virus HPV ở người đều giống nhau. Thông thường, virus HPV tự biến mất mà không gây ra các vấn đề sức khỏe. Đối với hầu hết những người có hệ miễn dịch khỏe mạnh, virus HPV sẽ tự đào thải và biến mất trong vòng 1-2 năm. Trong các trường hợp dưới đây, virus HPV có thể không tự biến mất:

  • Người bị ức chế miễn dịch: Những người bị HIV/AIDS, người đang được ghép tạng sử dụng thuốc ức chế miễn dịch, mắc các bệnh cần điều trị bằng corticoid liều cao kéo dài…
  • Nếu bạn nhiễm virus HPV nguy cơ thấp mà virus không tự biến mất, nó có thể chuyển thành mụn cóc sinh dục. Trong trường hợp này, người bệnh cần được điều trị bằng cách cắt hoặc đốt bỏ chúng.
  • Nếu bạn nhiễm virus HPV nguy cơ cao, virus có thể làm thay đổi các tế bào của cổ tử cung, dương vật, hậu môn hoặc miệng, từ đó phát triển các tế bào tiền ung thư. Nếu chúng không được kiểm soát, theo dõi hoặc điều trị, cuối cùng sẽ dẫn tới ung thư trong vài năm sau đó. Điều này xảy ra ở khoảng 10% những người nhiễm HPV.

⇒ Đừng chủ quan bạn nhé, hãy tìm hiểu rõ hơn qua bài viết: HPV từ đào thải sau 2 năm.

  1. Có thể sống chung với virus HPV không?

KHÔNG NÊN! Ở hầu hết người nhiễm, virus HPV hoàn toàn vô hại và không gây ra bất kỳ triệu chứng nào. Tuy nhiên, khi cơ thể không tự chống lại, chúng có thể gây ra mụn cóc ở bộ phận sinh dục và hậu môn (khoảng 90%), gây ung thư hậu môn cho cả nam và nữ. Ở nhóm nguy cơ cao (khoảng 70%) lại có thể gây UTCTC ở nữ giới. Virus HPV có trên 120 loại, phổ biến ở cả nam và nữ, trong đó có 30-40 tuýp virus hậu môn sinh duc, 15-20 tuýp sinh ung thư và 15-20 tuýp còn lại không sinh ung thư.

  1. Ai nên tiêm ngừa vắc xin HPV?

Tất cả người trong độ tuổi 9-26! Tại Việt Nam, vắc xin HPV được khuyến cáo tiêm chủng cho trẻ em gái, trẻ em trai, nam và nữ giới trong độ tuổi từ 9-26 tuổi, bất kể quan hệ tình dục, lập gia đình hay dậy thì hay chưa. Hiện nay, một số quốc gia trên thế giới như Mỹ đã phê duyệt tiêm vắc xin ngừa HPV mở rộng cho phụ nữ và nam giới từ 27 tuổi cho tới 45 tuổi. Phụ nữ đã quá 27 tuổi vẫn có thể tiêm vắc xin phòng HPV nhưng hiệu quả không đạt tối ưu như độ tuổi từ 9-26 tuổi.

Trong đó, độ tuổi lý tưởng để tiêm chủng vắc xin HPV cho nam giới là 9-14 tuổi, do độ tuổi càng trẻ nguy cơ nhiễm HPV thấp hơn ở lứa tuổi lớn hơn, do vậy trẻ nam sẽ nhận được đáp ứng miễn dịch đầy đủ bởi các type có trong vắc xin càng cao, kháng thể được sản sinh ra nhiều hơn. Do virus HPV có thể lây nhiễm ở mọi lứa tuổi, diễn tiến âm thầm và không biểu hiện triệu chứng, do đó khi phát hiện thường đã đến giai đoạn tiền ung thư và ung thư. Vì vậy, việc tiêm vắc xin HPV rất quan trọng, có thể giảm tới trên 94% nguy cơ mắc các bệnh ung thư liên quan tới HPV.

checker xin gardasil
VNVC đảm bảo cung ứng đầy đủ vắc xin Gardasil và Gardasil 9.

Số ca ung thư do virus HPV ở nam và nữ giới đang gia tăng trên toàn cầu và cả Việt Nam. Các bệnh ung thư do vi rút HPV gây ra gánh nặng bệnh tật, mất nhiều chi phí, đe dọa sức khỏe, tính mạng của người bệnh, gia đình và cộng đồng. Tiêm chữa bệnh HPV là biện pháp phòng bệnh đơn giản, tiết kiệm và hiệu quả nhất!